Sáng ngày 03/4/2026 (Thứ Sáu), trong khuôn khổ Chuỗi Hội thảo chuyên đề và Diễn đàn Khoa học Trọng tài – Hòa giải 2026 (AMS 2026), Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) phối hợp cùng Trường Đại học Luật Hà Nội (HLU) và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (ULAW) tổ chức Hội thảo Quốc gia về “Quản trị tố tụng trọng tài trong tranh chấp chuỗi”.

Sáng ngày 03/4/2026 (Thứ Sáu), trong khuôn khổ Chuỗi Hội thảo chuyên đề và Diễn đàn Khoa học Trọng tài – Hòa giải 2026 (AMS 2026), Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) phối hợp cùng Trường Đại học Luật Hà Nội (HLU) và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (ULAW) tổ chức Hội thảo Quốc gia về “Quản trị tố tụng trọng tài trong tranh chấp chuỗi”.
Sự kiện được triển khai song song tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, thu hút sự tham gia của hơn 400 đại biểu là các chuyên gia trong lĩnh vực pháp lý và giải quyết tranh chấp, nhà nghiên cứu, luật sư, trọng tài viên cùng đại diện doanh nghiệp; qua đó, tạo diễn đàn trao đổi đa chiều về xu hướng và các vấn đề thực tiễn trong giải quyết tranh chấp dạng chuỗi tại trọng tài thương mại.
.jpg)
GS. TS. Lê Hồng Hạnh – Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)
Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS. TS. Lê Hồng Hạnh – Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) nhận định, sự gia tăng của tranh chấp dạng chuỗi là hệ quả tất yếu của quá trình giao dịch theo hướng phức hợp, đa tầng và có sự tham gia của nhiều chủ thể. Thực tiễn này khiến mô hình tố tụng trọng tài truyền thống – được thiết kế chủ yếu để giải quyết các tranh chấp đơn lẻ, xuất hiện nhiều bất cập. Bởi lẽ, các tranh chấp có tính chuỗi đòi hỏi cách tiếp cận mới hơn, không chỉ là giải quyết từng vụ riêng biệt mà còn là quản tri toàn bộ “hệ sinh thái tranh chấp” một cách nhất quán, chặt chẽ. Từ góc độ tổ chức trọng tài, Chủ tịch VIAC cho biết Trung tâm đang chủ động nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và giải quyết loại tranh chấp này. Trên thế giới, nhiều tổ chức trọng tài quốc tế đã phát triển các cơ chế như gộp vụ tranh chấp hay xử lý tranh chấp nhiều bên, tuy vậy, việc áp dụng tại Việt Nam vẫn còn thách thức do đặc thù của hệ thống pháp lý và mức độ phát triển của thị trường.
Từ đó, GS. TS. Lê Hồng Hạnh nhấn mạnh ý nghĩa thiết thực và tính thời sự của chủ đề sự kiện, đồng thời kỳ vọng sự kiện sẽ tạo ra không gian trao đổi chuyên môn cởi mở, tập hợp và phản ánh ý kiến của cộng đồng chuyên gia, phục vụ cho quá trình hoàn thiện pháp luật về trọng tài tại Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh các kiến nghị sửa đổi Luật Trọng tài thương mại đã được đặt ra tại Quốc hội, những trao đổi tại Hội thảo Quốc gia lần này được kỳ vọng sẽ góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình sửa đổi, hướng tới tháo gỡ các vướng mắc hiện hành, nhất là đối với tranh chấp dạng chuỗi; qua đó, nâng cao hiệu quả hoạt động trọng tài, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của doanh nghiệp trong giai đoạn phát triển mới.

GS. TS. Đỗ Văn Đại - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (ULAW)
Đại diện Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (ULAW), GS. TS. Đỗ Văn Đại - Phó Hiệu trưởng Nhà trường phát biểu chào mừng Hội thảo. GS. TS. Đỗ Văn Đại cho biết, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh luôn quan tâm và thúc đẩy tăng cường nghiên cứu, tạo các diễn đàn học thuật - thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, chuẩn bị nguồn nhân lực pháp lý có năng lực thích ứng với các yêu cầu mới của thị trường. Trong các hợp tác của trường, hợp tác về phổ biến, trao đổi kiến thức về ADR là một trong những mục quan trọng. Theo GS. TS. Đỗ Văn Đại, trọng tài nói riêng, ADR nói chung là những phương thức đang ngày càng phổ biến trong hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn chưa hoàn thiện, cơ quan giải quyết tranh chấp và các bên tham gia đã, đang gặp không ít thách thức. Xu hướng chuỗi tranh chấp, theo GS. TS. Đỗ Văn Đại, là một trong những thách thức đó. GS. TS. Đỗ Văn Đại cho rằng việc các tổ chức trọng tài nhận diện sớm xu hướng này và bắt đầu tạo lập các kênh, các hội thảo để trao đổi chuyên môn, chia sẻ kinh nghiệm là kịp thời và phù hợp với bối cảnh. Tuy nhiên, GS. TS. Đỗ Văn Đại cũng nhấn mạnh, việc học hỏi, tiếp thu các giải pháp từ quốc tế cần có sự chọn lọc để đảm bảo không mâu thuẫn với pháp luật quốc gia và khuôn khổ luật trọng tài.
.jpg)
PGS. TS. Nguyễn Bá Bình - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội (HLU)
Đại diện Trường Đại học Luật Hà Nội (HLU), PGS. TS. Nguyễn Bá Bình - Phó Hiệu trưởng Nhà trường cũng ghi nhận Hội thảo như một sự kiện học thuật có giá trị trong việc kết nối giữa nghiên cứu và thực tiễn áp dụng pháp luật. PGS.TS. Nguyễn Bá Bình khẳng định việc nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế trong quản trị tố tụng trọng tài, đặc biệt đối với các xu hướng tranh chấp nổi bật như các tranh chấp có tính chuỗi là yêu cầu cấp thiết của thực tiễn. Những ý kiến, kinh nghiệm được trao đổi tại Hội thảo sẽ gợi mở, tạo tiền đề cho việc hoàn thiện khung pháp lý, các quy tắc tố tụng trọng tài, qua đó, từng bước nâng cao chất lượng của cơ chế trọng tài thương mại tại Việt Nam. Ông cũng đánh giá cao sự phối hợp giữa HLU và VIAC trong khuôn khổ AMS, thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa các chủ thể, từ cơ sở đào tạo và tổ chức trọng tài, cộng đồng hành nghề thực tiễn, hướng tới thúc đẩy sự phát triển đồng bộ của lĩnh vực giải quyết tranh chấp tại Việt Nam.
Phiên tham luận của Hội thảo, với chủ đề “Quản trị tranh chấp chuỗi ở các giai đoạn của tố tụng trọng tài”, bao gồm 06 tham luận, tập trung trao đổi về một số nguyên tắc, công cụ, giải pháp quản trị tố tụng trọng tài đối với các tranh chấp dạng chuỗi. Cụ thể như sau:
ThS. Mạc Trang Anh - Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (ULAW)
Mở đầu phiên tham luận, ThS. Mạc Trang Anh - Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (ULAW) trao đổi về cơ chế gộp vụ tranh chấp đối với các tranh chấp dạng chuỗi. Từ góc độ quản trị giải quyết tranh chấp, bà Trang Anh cho rằng khi các chuỗi tranh chấp phát sinh theo chiều dọc, cụ thể là các tranh chấp nối tiếp, phụ thuộc lẫn nhau, có mức độ tương đồng cao về tình tiết, sự kiện và chứng cứ, việc giải quyết riêng lẻ từng vụ việc có thể dẫn đến sự phân tán nguồn lực và gia tăng nguy cơ xuất hiện các phán quyết thiếu nhất quán. Trong bối cảnh đó, cơ chế gộp vụ tranh chấp được xem như một công cụ tố tụng quan trọng nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí, tránh các quy trình tố tụng song song; đồng thời, giúp cho hội đồng trọng tài và các bên trong tranh chấp xem xét chứng cứ một cách toàn diện.
Đối với các chuỗi tranh chấp theo chiều ngang, gồm các tranh chấp hàng loạt, tương tự, cơ chế gộp cũng có thể được cân nhắc. Tuy nhiên, việc gộp đối với các tranh chấp hàng loạt sẽ phức tạp hơn so với các chuỗi tranh chấp dọc, đặc biệt khi số lượng vụ tranh chấp lên đến hàng trăm, hàng nghìn vụ. So sánh với quốc tế, thông qua khảo cứu một số quy tắc của các trung tâm trọng tài như ICC, LCIA, HKIAC hay SIAC, diễn giả chỉ ra rằng quy định về gộp vụ của các trung tâm được thiết kế khá chi tiết. Trong đó các yếu tố về sự tương thích của thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài, các bên, mức độ liên quan giữa các tranh chấp là những điểm được chú trọng.
Từ các phân tích, ThS Mạc Trang Anh khuyến nghị mặc dù cơ chế gộp vụ mang lại nhiều lợi ích về hiệu quả giải quyết tranh chấp, việc áp dụng cần được cân nhắc thận trọng, bảo đảm sự cân bằng giữa quyền tự định đoạt của các bên, giới hạn thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài và yêu cầu bảo đảm nguyên tắc công bằng trong từng vụ việc cụ thể.
.jpg)
TS. Trần Thuý Hằng - Giảng viên Khoa Pháp luật Quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội (HLU), Học giả trao đổi Đại học Washington
Tiếp nối Hội thảo, TS. Trần Thuý Hằng - Giảng viên Khoa Pháp luật Quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội (HLU), Học giả trao đổi Đại học Washington đã có phần tham luận về “Quản trị và xem xét chứng cứ trong tranh chấp dạng chuỗi”. Từ thực tiễn Hoa Kỳ và đối chiếu với các quy tắc trọng tài quốc tế, TS. Trần Thúy Hằng tập trung làm rõ ba nhóm vấn đề trọng tâm trong hoạt động quản trị và đánh giá chứng cứ.
Thứ nhất là giá trị tham chiếu của chứng cứ giữa các vụ tranh chấp, đặc biệt dưới góc độ học thuyết hiệu lực ngăn chặn (issue preclusion), qua đó đặt ra vấn đề về khả năng ảnh hưởng của các kết luận đã được xác lập trong một vụ việc đối với các tranh chấp phát sinh sau đó.
Thứ hai là yêu cầu bảo đảm công bằng tố tụng (due process) khi sử dụng chứng cứ liên vụ, qua đó, diễn giả nhận định dù trọng tài cho phép mức độ linh hoạt nhất định nhưng vẫn phải duy trì đầy đủ quyền trình bày và phản biện của các bên.
Thứ ba là các cơ chế thủ tục cần thiết để cân bằng giữa hiệu quả giải quyết tranh chấp và quyền lợi tố tụng cơ bản của các chủ thể tham gia, trong đó diễn giả nhấn mạnh đến quyền tiếp cận chứng cứ, đặc biệt trong các chuỗi tranh chấp hàng loạt. Thông qua việc phân tích các quy tắc của ICC, LCIA, SIAC, UNCITRAL, IBA cùng hai án lệ tiêu biểu năm 2024 là Wallrich v. Samsung và Heckman v. Live Nation, bà cho rằng tranh chấp dạng chuỗi làm cho việc quản trị chứng cứ trở nên phức tạp hơn đáng kể do khối lượng tài liệu lớn, nguy cơ trùng lặp, sự bất đối xứng thông tin và thiếu cơ chế bảo đảm tính nhất quán giữa các vụ việc. Theo đó, quyền đánh giá chứng cứ của Hội đồng Trọng tài tuy rộng nhưng vẫn phải được đặt trong giới hạn của nguyên tắc công bằng tố tụng; nếu không, phán quyết có thể đối mặt với rủi ro bị hủy hoặc không được công nhận và cho thi hành.
Từ những phân tích, TS. Trần Thúy Hằng đưa ra khuyến nghị cho Việt Nam theo lần lượt theo ba mức độ: (i) các giải pháp có thể áp dụng trực tiếp, như tăng cường cơ chế quản trị chứng cứ và hướng dẫn sử dụng chứng cứ “liên vụ”; (ii) các giải pháp có thể áp dụng có điều kiện, như tham chiếu học thuyết issue preclusion; và (iii) các nội dung chưa phù hợp cần thận trọng khi tiếp thu, đặc biệt liên quan đến các mô hình trọng tài hàng loạt.

ThS. NCS. Huỳnh Quang Thuận - Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (ULAW)
Trao đổi về nguyên tắc bảo mật của phán quyết trọng tài trong tranh chấp dạng chuỗi, ThS. NCS. Huỳnh Quang Thuận - Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (ULAW) tập trung phân tích bản chất, phạm vi và những vướng mắc trong áp dụng nguyên tắc bảo mật phán quyết trọng tài, đặc biệt trong bối cảnh tranh chấp chuỗi. Thực tiễn cho thấy, việc các bên sử dụng phán quyết trọng tài đã ban hành như một tài liệu, chứng cứ trong các chuỗi tranh chấp ngày càng trở nên phổ biến. Từ đây, ông Thuận đặt ra hai vấn đề pháp lý trọng tâm, bao gồm: (i) quyền sử dụng phán quyết trọng tài vụ trước cho các vụ nối tiếp/tương tự; và (ii) Khả năng Hội đồng Trọng tài có thể tham chiếu hoặc kế thừa nội dung của các phán quyết trước đó trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định trực tiếp về bảo mật phán quyết trọng tài, mà chỉ ghi nhận gián tiếp thông qua nguyên tắc xét xử không công khai và nghĩa vụ giữ bí mật của trọng tài viên. Đồng thời, pháp luật cũng chưa có quy định rõ ràng về quyền sử dụng phán quyết trọng tài của các bên trong các tranh chấp tương tự hoặc giới hạn việc Hội đồng trọng tài tham chiếu các phán quyết trước. Theo ông Thuận, điều này dẫn đến sự thiếu thống nhất trong thực tiễn áp dụng. Trên bình diện quốc tế, ông Thuận cũng chỉ ra, hiện chưa tồn tại cách tiếp cận thống nhất về vấn đề này. Cụ thể, trong khi một số quốc gia bắt buộc tuân thủ nghĩa vụ bảo mật, nhiều hệ thống pháp luật khác không tuyệt đối hóa nguyên tắc bảo mật mà tiếp cận theo hướng linh hoạt, có điều kiện, đặc biệt khi việc sử dụng phán quyết là cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên hoặc vì lợi ích công cộng.
Từ đó, ThS. Huỳnh Quang Thuận đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam, bao gồm: (i) bổ sung nghĩa vụ bảo mật đối với các bên tranh chấp; (ii) cho phép sử dụng phán quyết trọng tài trong trường hợp cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên; (iii) trao thẩm quyền cho Hội đồng trọng tài đánh giá việc sử dụng này; và (iv) không cần quy định cứng về việc kế thừa phán quyết trước, thay vào đó để Hội đồng trọng tài tự do đánh giá trên cơ sở nguyên tắc độc lập.

LS. Đặng Việt Anh - Giám đốc Công ty Luật TNHH ANHISA, Trọng tài viên VIAC, Hòa giải viên Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc VIAC
Tiếp nối, LS. Đặng Việt Anh - Giám đốc Công ty Luật TNHH ANHISA, Trọng tài viên VIAC, Hòa giải viên Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc VIAC đã có phần tham luận về cơ chế xét xử mẫu và mức độ khả thi khi áp dụng cơ chế này với các tranh chấp dạng chuỗi tại Việt Nam. Theo đó, cơ chế xét xử “mẫu” (bellwether/test case) là cơ chế được sử dụng tại các nước theo hệ thống án lệ (common law). Cụ thể, theo cơ chế này, một số vụ việc điển hình sẽ được lựa chọn để xét xử trước, làm cơ sở tham chiếu cho các tranh chấp có tính chất tương tự. LS. Đặng Việt Anh cho rằng đây là một công cụ tiềm năng nhằm xử lý các tranh chấp phát sinh hàng loạt, với những lợi ích đáng kể như tiết kiệm thời gian, chi phí, giảm tải cho cơ quan tố tụng, đồng thời nâng cao tính nhất quán và khả năng dự đoán của phán quyết.
Bên cạnh đó, việc xét xử mẫu còn đóng vai trò như một “tín hiệu” giúp các bên định hình kỳ vọng và thúc đẩy quá trình thương lượng, giải quyết tranh chấp trên diện rộng. Tuy nhiên, việc áp dụng cơ chế này cũng vướng những vấn đề nhất định, bao gồm nguy cơ vụ việc được lựa chọn không bảo đảm tính đại diện, khả năng vi phạm nguyên tắc công bằng tố tụng (due process), khó khăn trong việc lựa chọn vụ mẫu phù hợp, cũng như những vấn đề liên quan đến hiệu lực ràng buộc và khả năng thi hành đối với các vụ việc không trực tiếp tham gia tố tụng mẫu.
Đặt trong bối cảnh pháp lý tại Việt Nam, LS. Đặng Việt Anh nhận định rằng mặc dù cơ chế xét xử “mẫu” có tiềm năng lớn, đặc biệt khi các tranh chấp hàng loạt gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế số, việc áp dụng hiện nay vẫn gặp nhiều hạn chế do khung pháp lý chưa hoàn thiện, phạm vi trọng tài còn hẹp và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế. Trên cơ sở đó, LS. Đặng Việt Anh đề xuất Việt Nam cần tiếp cận theo hướng thận trọng, ưu tiên thí điểm có kiểm soát, đồng thời từng bước hoàn thiện pháp luật, xây dựng quy tắc tố tụng phù hợp tại các trung tâm trọng tài.
.jpg)
TS. Nguyễn Mai Linh - Phó Trưởng Bộ môn Pháp luật về Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội (HLU)
Liên quan đến việc sử dụng các phán quyết trước đó trong các tranh chấp có tính chất tương tự, TS. Nguyễn Mai Linh - Phó Trưởng bộ môn phụ trách, Bộ môn Pháp luật về Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội phân tích, trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế, các phán quyết trọng tài của các vụ tranh chấp trước có thể được các bên và Hội đồng Trọng tài sử dụng như nguồn tham khảo nhằm hỗ trợ lập luận và định hướng cách tiếp cận đối với các vấn đề pháp lý tương tự. Tuy nhiên, việc viện dẫn chủ yếu tập trung vào các vấn đề tố tụng như thẩm quyền, áp dụng biện pháp tạm thời hoặc cách xác định luật điều chỉnh, trong khi các vấn đề liên quan đến nội dung tranh chấp hiếm khi được tham chiếu. Xu hướng tham chiếu phán quyết của các vụ tranh chấp được giải quyết trước đã hình thành và được vận dụng trong trọng tài thể thao và đầu tư.
Trong trọng tài thương mại, do không vận hành theo nguyên tắc án lệ (stare decisis), đồng thời bị ràng buộc tính bảo mật và tính độc lập trong lập luận của Hội đồng Trọng tài, nên việc viện dẫn, tham khảo phán quyết trọng tài sẽ gặp giới hạn nhất định. Việc viện dẫn thiếu thận trọng hoặc mang tính áp đặt có thể dẫn đến rủi ro vi phạm các nguyên tắc tố tụng cơ bản, như quyền được lắng nghe, nguyên tắc khách quan, học thuyết res judicata. Trên cơ sở đó, hai chuyên gia đề xuất cần tiếp cận vấn đề này một cách cẩn trọng. Không chỉ vậy, vai trò của Thư ký Hội đồng Trọng tài cũng nên được tăng cường để hỗ trợ tra cứu, đối chiếu các vụ việc tương tự, đảm bảo tính nhất quán của phán quyết trọng tài trong cùng chuỗi.

TS. LS. Nguyễn Trung Nam - Luật sư sáng lập Công ty Luật TNHH Cộng Sự Tinh Tú (EPLegal), Trọng tài viên VIAC, Phó Giám đốc Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc VIAC
TS. LS. Nguyễn Trung Nam - Luật sư sáng lập Công ty Luật TNHH Cộng Sự Tinh Tú (EPLegal), Trọng tài viên VIAC, Phó Giám đốc Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc VIAC cũng có phần trao đổi đa chiều về vấn đề án lệ trọng tài và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh tranh chấp dạng chuỗi. Theo diễn giả, trong trọng tài không có khái niệm án lệ theo nghĩa pháp lý chặt chẽ. Khác với cơ chế án lệ trong hệ thống tòa án, phán quyết trọng tài không mang tính ràng buộc đối với các vụ việc sau, mà chỉ có hiệu lực giữa các bên trong từng tranh chấp cụ thể. Tuy nhiên, thực tiễn quốc tế cho thấy các phán quyết trọng tài vẫn thường xuyên được viện dẫn như một nguồn tham khảo có giá trị thuyết phục (persuasive authority), góp phần củng cố lập luận pháp lý và nâng cao tính nhất quán trong giải quyết tranh chấp.
Qua phân tích, diễn giả cũng làm rõ vai trò và mức độ của việc công bố phán quyết trọng tài. Theo đó, tác giả nhấn mạnh sự cân bằng giữa nguyên tắc bảo mật và xét xử nhất quán. Diễn giả khuyến nghị rằng, việc xây dựng cơ sở dữ liệu phán quyết ẩn danh là cần thiết trong bối cảnh các chuỗi tranh chấp hàng loạt ngày càng nhiều. Tuy nhiên, giải pháp này cần được triển khai theo hướng “mềm” nhằm đảm bảo không làm suy giảm tính bảo mật và không ảnh hưởng đến quá trình lập luận, quyết định của Hội đồng Trọng tài.

Tiếp nối Phiên tham luận, Phiên thảo luận được triển khai nhằm trao đổi, mở rộng và phản biện về các vấn đề đã được đặt ra tại phiên trước đó. Phiên này được dẫn dắt bởi các điều phối viên: PGS. TS. Nguyễn Bá Bình - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội (HLU) và GS. TS. Đỗ Văn Đại - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (ULAW), cùng sự tham gia của các chuyên gia: LS. Vũ Ánh Dương - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC); LS. Nguyễn Thị Hải Chi - Luật sư thành viên Công ty Luật TNHH CDR Counsels, Trọng tài viên VIAC; TS. Trần Thúy Hằng - Giảng viên Khoa Pháp luật Quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội (HLU), Học giả trao đổi Đại học Washington; NCS. ThS. Huỳnh Quang Thuận - Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (ULAW); và TS. LS. Nguyễn Trung Nam - Luật sư sáng lập Công ty Luật TNHH Cộng Sự Tinh Tú (EPLegal), Trọng tài viên VIAC, Phó Giám đốc Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc VIAC.
Tại Phiên thảo luận, các chuyên gia đã tập trung trao đổi về các vấn đề thực tiễn trong quản trị tố tụng trọng tài đối với tranh chấp dạng chuỗi, đặc biệt nhấn mạnh những thách thức trong việc điều phối nhiều vụ tranh chấp dạng chuỗi. Cụ thể các vấn đề trao đổi bao gồm:
(i) Gộp vụ tranh chấp đối với các tranh chấp dạng chuỗi
Trong bối cảnh các tranh chấp dạng chuỗi và tranh chấp hàng loạt ngày càng gia tăng, các chuyên gia đã trao đổi về khả năng thiết lập các cơ chế “phối hợp tố tụng” (procedural coordination) nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp. Đối với các tranh chấp theo chiều dọc (chain of disputes), các chuyên gia đánh giá, cơ chế gộp vụ tranh chấp (consolidation) và cơ chế bổ sung bên thứ ba tham gia (joinder) được xem là hướng tiếp cận có thể cân nhắc. Tuy nhiên, trong bối cảnh pháp luật trọng tài Việt Nam hiện nay, việc áp dụng các cơ chế này cần cân nhắc kỹ lưỡng do Luật Trọng tài thương mại 2010 chưa có quy định minh thị về vấn đề này.
Các chuyên gia khuyến nghị rằng, trong bối cảnh luật chưa được sửa đổi, quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài cần được hoàn thiện theo hướng chi tiết hóa hơn về cơ chế gộp vụ tranh chấp. Đối với cơ chế bổ sung bên thứ ba (joinder), theo các chuyên gia, cần xác định rõ nguyên tắc rằng bên thứ ba chỉ có thể tham gia tố tụng nếu bị ràng buộc bởi thỏa thuận trọng tài; trong trường hợp không tồn tại thỏa thuận trọng tài, việc cho phép tham gia sẽ không phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
Đối với các tranh chấp theo chiều ngang (mass disputes), một số tổ chức trọng tài quốc tế đã phát triển cơ chế “batching”, nghĩa là nhóm các vụ việc có tính chất tương tự để giải quyết và dựa vào đó làm tiền lệ. Cơ chế này dù có nhiều ưu điểm, nhưng, trong bối cảnh hiện nay, việc áp dụng có thể sẽ gặp nhiều hạn chế do giới hạn của khung pháp lý, và quan trọng hơn cả là, đặc điểm các tranh chấp hàng loạt tại trọng tài Việt Nam hiện nay vẫn chưa tương thích với đặc thù về “mass disputes” đang được hiểu trong trọng tài quốc tế.
(ii) Quản trị và xem xét chứng cứ trong tranh chấp chuỗi
Do các tranh chấp trong chuỗi thường có những điểm tương đồng nhất định về điều khoản hợp đồng hoặc diễn biến vụ việc, các chuyên gia cho rằng việc thu thập và đánh giá chứng cứ cần được tiếp cận theo cách thức khác so với các tranh chấp đơn lẻ. Một số ý kiến cho rằng nên cho phép sử dụng chung hoặc tham chiếu chéo chứng cứ giữa các vụ việc để tăng hiệu quả giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, cách làm này cũng có những hạn chế.
Trước hết, Hội đồng Trọng tài không thể tự ý sử dụng các tài liệu ngoài phạm vi hồ sơ của từng vụ việc cụ thể. Bên cạnh đó, trong các tranh chấp dạng chuỗi, số lượng chứng cứ thường rất lớn và nằm rải rác ở nhiều vụ, khiến việc kiểm soát và đánh giá trở nên khó khăn. Hơn nữa, pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định rõ ràng về việc cho phép tham chiếu chéo chứng cứ giữa các vụ liên quan. Vì vậy, để bảo đảm hiệu quả, Hội đồng Trọng tài cần xây dựng cơ chế quản lý chứng cứ phù hợp. Cụ thể, cần xác định rõ những chứng cứ thực sự cần thiết và kiểm soát chặt chẽ quá trình thu thập, nộp tài liệu. Điều này giúp tránh tình trạng quá tải thông tin, kéo dài thời gian giải quyết và làm giảm hiệu quả của quá trình tố tụng trọng tài.
(iii) Cơ chế xét xử mẫu: Thuận lợi, thách thức và mức độ khả thi khi áp dụng với tranh chấp dạng chuỗi tại Việt Nam
Theo các chuyên gia, việc chọn một vụ “mẫu” để giải quyết trước có thể giúp định hướng cách xử lý các tranh chấp tương tự, đặc biệt khi không thể gộp các vụ lại với nhau. Tuy nhiên, trong tố tụng trọng tài tại Việt Nam, cách làm này gặp hai khó khăn chính. Thứ nhất là vấn đề bảo mật: thông tin và tài liệu của vụ việc trước không phải lúc nào cũng có thể chia sẻ cho các vụ sau. Thứ hai là nguyên tắc độc lập: mỗi Hội đồng Trọng tài phải tự xem xét và quyết định vụ việc của mình, không bị ràng buộc bởi quyết định trước đó. Xét xử mẫu là một giải pháp khá tốt và đã được đề xuất áp dụng trong giải quyết tranh chấp hàng loạt ở một số quốc gia trên thế giới. Tuy vậy, các chuyên gia cho rằng, với đặc điểm của chuỗi tranh chấp hàng loạt tại Việt Nam và khung pháp luật còn nhiều giới hạn, hình thức xét xử mẫu nên được xem xét kỹ hơn và áp dụng ở thời điểm phù hợp.
(iv) Nguyên tắc bảo mật và mức độ tham khảo/viện dẫn phán quyết trọng tài đối với tranh chấp dạng chuỗi
Theo các chuyên gia, việc cân bằng giữa yêu cầu bảo mật và nhu cầu tham khảo, viện dẫn các phán quyết trong các tranh chấp dạng chuỗi là một thách thức lớn, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên bình diện quốc tế. Trên thực tế, pháp luật và thực tiễn trọng tài quốc tế nhìn chung chưa thừa nhận việc áp dụng các phán quyết trước như một cơ sở ràng buộc cho các tranh chấp sau, bởi mỗi vụ việc vẫn mang tính độc lập về tình tiết và chủ thể. Dù nhiều tranh chấp có thể phát sinh từ cùng một hợp đồng mẫu, sự khác biệt trong quá trình thực hiện, chẳng hạn như nghĩa vụ thanh toán, tiến độ thực hiện hoặc các thỏa thuận bổ sung, có thể dẫn đến những hệ quả pháp lý khác nhau.
Vì vậy, các phán quyết trước đó chỉ nên được sử dụng như nguồn tham khảo nhằm định hướng lập luận và cách tiếp cận pháp lý, thay vì được coi là tiền lệ bắt buộc áp dụng. Cách tiếp cận này không chỉ phù hợp với bản chất của trọng tài mà còn góp phần bảo đảm tính hợp pháp cũng như khả năng được công nhận và thi hành của phán quyết trọng tài.
(v) Án lệ trọng tài (Arbitral Precedent): Định nghĩa, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra khi áp dụng trong tranh chấp dạng chuỗi tại Việt Nam
Trên phương diện quốc tế, xu hướng về án lệ trọng tài đang dần được ghi nhận, đặc biệt trong bối cảnh gia tăng các tranh chấp có cấu trúc tương tự. Tuy nhiên, khác với hệ thống án lệ trong tố tụng tòa án, phán quyết trọng tài không mang tính ràng buộc tiền lệ. Trong thực tiễn, việc viện dẫn phán quyết trước đó vẫn bị giới hạn đáng kể bởi nguyên tắc bảo mật cũng như yêu cầu bảo đảm tính độc lập trong việc xem xét, đánh giá từng vụ việc cụ thể. Để dung hòa giữa nhu cầu tiếp cận thông tin và các nguyên tắc nền tảng này, một số đề xuất được đặt ra như xây dựng “thư viện phán quyết” dưới dạng ẩn danh, cho phép các bên và giới nghiên cứu có thể tiếp cận có kiểm soát các lập luận và hướng xử lý trong các vụ việc trước đó.

PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa - Phó Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)
Phiên thảo luận với nhiều ý kiến trao đổi sôi nổi từ các chuyên gia và đại biểu tham dự. Sau hai phiên, PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa - Phó Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã có phần phát biểu tổng kết và đúc rút một số kết luận về lý luận, thực tiễn có giá trị cho Hội thảo. Các nội dung trao đổi tại Hội thảo không chỉ làm rõ những vấn đề quan trọng trong quản trị tố tụng trọng tài đối với tranh chấp dạng chuỗi, mà còn mang lại các góc nhìn thực tiễn và gợi mở những định hướng hữu ích, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp bằng ADR tại Việt Nam.
Sự kiện này cũng khép lại Chuỗi hoạt động chuyên môn AMS lần thứ tư, ghi nhận nhiều ý kiến trao đổi, thảo luận có giá trị, góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động trọng tài thương mại và hòa giải thương mại tại Việt Nam.

Toàn cảnh Hội trường tại hai điểm cầu
_____________________________
Xem lại các sự kiện thuộc AMS 2026:
| Lĩnh vực Bất động sản | Hội thảo chuyên đề: Yêu cầu khởi kiện trong tranh chấp chuỗi & thực tiễn tranh chấp bất động sản >>> Xem recap |
| Lĩnh vực Tài chính | Hội thảo chuyên đề: Vấn đề thẩm quyền trong tranh chấp chuỗi và thực tiễn tranh chấp tài chính >>> Xem recap |
| Lĩnh vực Thương mại | Hội thảo chuyên đề: Thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp chuỗi và thực tiễn tranh chấp kinh doanh thương mại >>> Xem recap |